Cây Ngũ gia bì chân chim Cortex Schefflerae octophyllae

Ngũ gia bì chân chim hay còn gọi là chân chim bảy lá, chân chim hoa trắng, đáng, lằng, sâm nam, chân vịt (danh pháp khoa học: Schefflera heptaphylla), là một loài thực vật có hoa trong Họ Cuồng cuồng (Araliaceae). Cây mọc hoang và được trồng ở nhiều địa phương tại Việt Nam. Loài này được (L.) Frodin mô tả khoa học đầu tiên năm 1990 publ. 1991.

Cây Ngũ gia bì chân chim Cortex Schefflerae octophyllae

Mô tả cây: Loài này có dạng thân gỗ, có kích thước nhỏ đến trung bình, cao tới hơn 10m đến 15m. Lá kép chân vịt, gồm 6- 8 lá chét, mọc so le, cuống có bẹ dài 8–35 cm. Cụm hoa chùm tụ tán, mọc ở kẽ lá hay đầu cành; hoa nhỏ, màu trắng. Quả mọng, hình cầu, khi chín màu tím đen, đường kính 3-4mm. Hoa nở từ mùa thu thu đến đầu đông, sau đó là kết trái. Đây là loài bán rụng lá hoặc thường xanh.

Phân bố: Loài này phân bố rộng rãi ở Việt Nam, miền nam Trung Quốc (Phúc Kiến, Quảng Đông, Quảng Tây, Quý Châu, Hồ Nam, Giang Tây, Tây Tạng, Vân Nam, Chiết Giang), Đài Loan, và Hồng Kông,[5] Thái Lan[6] Ấn Độ, Malaysia, Nhật Bản (kyushu, quần đảo Ryukyu)[4]. Chúng phân bố ở độ cao từ 100m lên đến 2100m

Thành phần hoá học chính: Saponin, tanin, tinh dầu.

Công dụng: Dùng làm thực phẩm

Miền tây Thanh Hóa, Nghệ An thường dùng lá cây Ngũ gia bì châm chim với tên gọi rau Lằng làm rau ăn sống hoặc nấu canh với cá, thịt. Canh lá Lằng là món ẩm thực văn hóa đặc biệt của đồng bào miền núi phía tây Thanh Hóa, Nghệ An.

Dùng trong dược liệu: Loài này có tác dụng kháng virus, chữa cảm lạnh thông thường[8] đau lưng, nhức xương, tê bại tay chân, phù thũng. Bộ phận dùng là vỏ thân, lá. Ngày dùng 10-20g, dạng thuốc sắc hoặc ngâm rượu.

Dược liệu là vỏ thân phơi khô hay sấy khô của cây Ngũ gia bì chân chim hay còn gọi tắt là cây chân chim Schefflera octophylla (Lour.) Harms., họ Nhân sâm – Araliaceae.

Đặc điểm thực vật

Cây cao 2-8m, có lá mọc so le, lá kép hình chân vịt với 6-8 lá chét có dáng như chân chim do đó mà có tên gọi. Cuống lá dài 6-30cm. Lá chét nguyên, hình trứng thuôn dài, đầu nhọn dài 7-20 cm, rộng 3-6 cm. Cuống lá chét ngắn 1,5 – 3 cm. Cụm hoa chùm tán. Hoa nhỏ màu trắng, số cánh hoa và nhị bằng nhau, thường là 5. Bao phấn 2 ô, bầu hạ có 5-6 ô. Quả hình cầu, đường kính 3-4 mm, khi chín có màu tím sẫm đen, trong chứa 6-8 hạt. Cây mọc hoang ở các rừng cây bụi hoặc đồi hoang.

Chế biến: Bóc vỏ để có chiều dài khoảng 20 cm, rộng 5 cm, cạo sơ qua để bỏ bớt lớp vỏ thô ở ngoài, phơi trong râm, ủ lá chuối 7 ngày, thỉnh thoảng đảo cho đều để nổi mùi thơm rồi lấy ra phơi hoặc sấy nhẹ cho khô.

Đặc điểm của dược liệu: Mảnh vỏ hơi cong, kích thước như đã nói ở trong phần chế biến. Dược liệu đã cạo lớp vỏ ngoài để lộ lớp trong màu nâu nhạt. lốm đốm xám. Mặt trong nhẵn, màu vàng nâu nhạt. Mặt cắt ngang dày 0,5-1 cm gồm lớp ngoài lổn nhổn như có sạn, lớp trong có sợi xốp và dễ tách dọc.

Vi phẫu: Lớp bần còn lại gồm nhiều lớp tế bào hình chữ nhật nằm ngang, màng hơi dày xếp chồng lên nhau thành dãy xuyên tâm rất đều. Có chỗ bị bong và nứt rách. Tầng phát sinh ngoài gồm một lớp tế bào hình chữ nhật nằm ngang, xếp đều đặn. Mô cứng xếp thành vòng liên tục sát tầng phát sinh ngoài. Tế bào mô cứng hình chữ nhật nằm ngang, thành dày, khoang hẹp, xếp thành dãy đều đặn. Mô mềm vỏ gồm tế bào có màng hơi mỏng hơi bị dẹt theo hướng tiếp tuyến. Từng quãng trong mô mềm có những tế bào mô cứng hợp thành đám hay đứng riêng lẻ. Tế bào hình nhiều cạnh, màng dày, khoang tế bào hẹp, có ống trao đổi. Trong mô mềm còn có ống tiết rải rác. Lớp liber dày chiếm 2/3 bề dày của vỏ. Tế bào liber màng mỏng, sợi liber xếp thành đám xen kẽ và xếp thành nhiều tầng trong liber. Tế bào sợi tròn, khoang tế bào hẹp. Có những tinh thể Ca oxalat hình thoi rải rác cạnh bó sợi. Vùng liber có các tia ruột xuyên qua. Trong liber cũng có ống tiết.

Bột: Màu vàng, nhiều tế bào mô cứng màu vàng nhạt, hình chữ nhật hoặc nhiều cạnh, có loại màng rất dày, khoang hẹp, có loại khoang rộng, có ống trao đổi rõ, đứng riêng lẻ hay tụ họp thành từng đám. Sợi có loại màng dày, đa số có khoang hẹp, có ống trao đổi rõ. Tế bào bần xếp đều đặn, hình nhiều cạnh, màng dày. Tế bào mô mềm hình nhiều cạnh màng mỏng. Tinh thể ca oxalat hình chữ nhật, hình lập phương , kích thước khoảng 40m. Hạt tinh bột nhỏ, đường kính 4-16m.